1. Bảng kích thước năm mẫu ghế tập lưng bụng ngoài trời
Muốn trả lời ghế tập lưng bụng công viên dài, rộng, cao bao nhiêu thì phải gọi đúng tên sản phẩm. Bảng dưới ghi các số đo được công bố trên trang chi tiết Thiên Long. Những giá trị này giúp so kích thước bao ngoài ban đầu, trước khi đơn vị lắp đặt dựng bản vẽ vị trí, vùng sử dụng và móng.
| Model ghế | Dài × rộng × cao | Giá bán | Nhóm thiết bị |
|---|---|---|---|
| Ghế đơn NT-511 | 150 × 63 × 60 cm | 7.500.000đ | Ghế đơn |
| Ghế đơn NT-620 | 138 × 66 × 60 cm | 7.550.000đ | Ghế đơn |
| Ghế đôi NT-619 | 130 × 112 × 63 cm | 11.950.000đ | Ghế đôi |
| Ghế đôi Vifa VF-711312-1 | 157 × 124 × 66 cm | 8.800.000đ | Ghế đôi |
| Ghế cong Vifa 731311 | 155,1 × 58,2 × 48 cm | 6.690.000đ | Ghế cong |
Cần đọc đúng thứ tự đo. Ví dụ, NT-619 có bề rộng 112 cm, không phải chiều cao 112 cm; bản thông số của mẫu này ghi chiều cao 63 cm. Sự nhầm lẫn giữa đơn vị milimét và centimét dễ làm sai kích thước khi đặt thiết bị sát đường dạo. Với ba số đo ghi bằng milimét, chia từng số cho 10 để đổi ra centimet, không đổi bằng phán đoán từ ảnh.
Trong danh mục máy tập xoay eo và lưng bụng ngoài trời, ghế bụng chỉ là một nhóm. Cùng tên liên quan đến “lưng eo” còn có máy đứng, máy xoay và bộ tập theo cơ cấu riêng, vì thế bảng kích thước ghế không được áp cho toàn danh mục. Điều quan trọng trước mua là xác nhận mã và bản thông số cùng một phiên bản sản phẩm.
2. Đọc kích thước như thế nào để không nhầm mặt ghế với khung?
Kích thước dài × rộng × cao thường là khoảng bao ngoài khung máy ở trạng thái lắp đặt. Đó là số đo hữu ích để ước lượng khoảnh nền tối thiểu mà chính thân ghế chiếm, nhưng không mô tả chính xác phần người dùng nằm hoặc ngồi lên. Trong ảnh, một ghế cong có thể dài gần bằng ghế đơn nhưng đoạn có thể tỳ lưng lại chỉ là một phần của tổng chiều dài.
Cần phân biệt: chiều dài phủ bì tính đến điểm xa nhất của khung; chiều dài mặt tựa là vùng thân người tiếp xúc; khoảng giữ chân là vị trí người dùng gác hoặc móc chân; và vùng thao tác là không gian còn lại để lên xuống, nâng thân hoặc nghỉ. Nếu bản vẽ chỉ có ba số bao ngoài, hãy yêu cầu thêm ảnh chính diện, mặt bên và hướng đặt người của mã máy.
| Thông số | Đo ở đâu | Dùng để quyết định |
|---|---|---|
| Dài phủ bì | Hai đầu xa nhất của toàn bộ khung | Vị trí máy so với mép sân |
| Rộng phủ bì | Hai điểm ngoài cùng theo chiều ngang | Khoảng cách tới thiết bị gần đó |
| Cao phủ bì | Mặt sàn hoàn thiện tới đỉnh cao nhất | Độ nổi của máy và giao cắt công trình |
| Mặt tựa hữu ích | Phần bề mặt dùng để tỳ/ngồi/nằm | Có phù hợp người tập dự kiến không |
| Điểm móc chân | Vị trí giữ hoặc tỳ chân đúng model | Khả năng lên xuống và tư thế tập |
| Vùng hoạt động | Phần đầu, tay, chân và thân di chuyển | Khoảng trống an toàn thực tế |
Khi gửi yêu cầu báo giá, nên ghi rõ “kích thước máy sau lắp” và “kích thước mặt ghế” là hai mục khác nhau. Nhà cung cấp có thể gửi bản vẽ hoặc đo bổ sung từng bộ phận. Nếu một thông số chưa công bố, cách đúng là xác minh thay vì sao chép một số đo có vẻ hợp lý từ ghế khác.
3. Ghế tập lưng bụng đơn NT-511: dài 150 cm, rộng 63 cm
NT-511 có thông số 1500 × 630 × 600 mm, tương đương 150 × 63 × 60 cm. Mẫu ghế đơn này có giá 7.500.000đ. Số đo chiều dài 150 cm giúp người phụ trách sân ước lượng phạm vi đặt khung dọc theo lối dạo, nhưng chưa cho biết người dùng cần thêm bao nhiêu khoảng trống về phía đầu khi nâng thân. Hãy xem hướng nằm trên ghế trước khi chốt quay đầu máy về một phía hàng rào.

Một điều đáng kiểm là cấu tạo điểm đặt chân của NT-511. Đôi khi khu vực móc chân nằm ở đầu của khung, tạo phần nhô khỏi mặt ghế. Nếu chỉ dùng chiều dài đệm làm mốc, phần móc chân dễ bị bỏ qua khi đặt sát tường. Khi dựng sơ đồ, đánh dấu cả chân trụ, thanh giằng và hướng lên xuống, sau đó mới tính lối đi còn lại.
NT-511 tương đối hẹp theo số đo bao ngoài, nhưng không thể mặc định sẽ thuận tiện cho người cao tuổi hoặc phù hợp sân nhỏ. Người tập có thể cần khoảng trống bên hông để xoay người ngồi dậy; khả năng lên xuống còn phụ thuộc chiều cao điểm tựa và thể lực. Nếu sân có nhiều người đi bộ qua lại, đặt ghế dọc lối đi chưa chắc hợp lý bằng xoay ghế vào vùng tập riêng.
4. Ghế tập lưng bụng đơn NT-620: so với NT-511 khác bao nhiêu?
NT-620 có kích thước 138 × 66 × 60 cm và giá 7.550.000đ. So với NT-511, ghế này ngắn hơn 12 cm, rộng hơn 3 cm và có cùng chiều cao phủ bì 60 cm. Sự khác biệt nhỏ về số đo thân máy không đủ để kết luận ghế nào có tư thế gập bụng dễ hơn; hai yếu tố quan trọng hơn là vị trí gác chân, mặt đỡ lưng và khoảng từ chỗ ngồi tới điểm tựa.

Nếu khảo sát một sân có đường dạo sát mép bồn cây, chỉ chọn theo chiều dài nhỏ nhất là chưa đủ. Ghế rộng hơn có thể cần vị trí đặt khác, đặc biệt nơi người tập xoay người bước xuống. Đối với cả hai mẫu, cần giữ lối thoát chung thông thoáng và tránh để phần thân máy cản lối cho xe lăn, xe đẩy hoặc nhân viên bảo trì.
Cách so đúng là đặt hai hình chiếu mặt bằng theo cùng tỷ lệ. Không kéo giãn ảnh một sản phẩm để “ước lượng” số đo. Thay vào đó, ghi 138 × 66 và 150 × 63 trên hai khung chữ nhật theo tỉ lệ, rồi cộng riêng phần không gian cần dành cho người tập ở từng hướng. Khi đã có sơ đồ, quyết định trở nên rõ ràng hơn rất nhiều so với nhìn các ảnh khác góc chụp.
5. Ghế tập lưng bụng đôi NT-619: thân ghế rộng 112 cm
Mẫu ghế tập lưng bụng đôi NT-619 có kích thước 130 × 112 × 63 cm, giá bán 11.950.000đ. Số đo 112 cm là bề rộng toàn bộ thiết bị, phản ánh cấu tạo hai vị trí theo thiết kế. Khi so với ghế đơn, không nên xem hai vị trí nằm trên cùng một “mặt ghế tiêu chuẩn” vì điểm tựa và hướng sử dụng có thể khác. Trước khi chọn, cần xác nhận cách hai người đồng thời lên xuống và gập thân mà không vướng nhau.
Trong bảng mặt bằng, NT-619 chiếm 1,30 × 1,12 = 1,456 m² phần hình chữ nhật bao thân. Đây là phép tính hình học, không phải diện tích an toàn. Người dùng vẫn có thể cần khoảng trống cho đầu, chân và cánh tay; nếu ghế đặt cạnh thiết bị khác, hai vùng vận động có thể chồng lên nhau. Không thể cộng số lượng máy rồi nhân mỗi diện tích thân để chốt diện tích công viên.

Với ghế đôi, hai bên ghế có thể được sử dụng ở thời điểm khác nhau, nhưng thiết kế đủ hai vị trí cũng không bảo đảm khu sân đủ điều kiện cho hai người vận động đồng thời. Hãy kiểm hướng ngả thân, khoảng cách giữa các vị trí và lối tiếp cận riêng. Nếu ghế nằm sát bồn cây, bên có thể tiếp cận sẽ phụ thuộc việc cây có xòe tán, rễ nổi hoặc vật cản từ công trình.
Một ví dụ bố trí sai là để ghế đôi đối diện ngay với mép sân chỉ vì tổng chiều dài khung ngắn hơn ghế đơn. Khi người tập quay người xuống ghế, hành lang đi lại có thể bị chiếm. Nếu phải thay hướng máy, nên thực hiện trên sơ đồ trước khi xây móng; di dời ghế sau khi chôn trụ sẽ tốn công và có thể ảnh hưởng lớp lát.
6. Ghế bụng đôi Vifa VF-711312-1: dài 157 cm, rộng 124 cm
Vifa VF-711312-1 có kích thước công bố 1570 × 1240 × 660 mm, tức 157 × 124 × 66 cm. Mẫu ghế đôi Vifa này có giá bán 8.800.000đ. Bề rộng thân lớn hơn NT-619 12 cm và chiều dài lớn hơn 27 cm. Tuy vậy, không nên kết luận mặt nằm cũng dài thêm 27 cm, vì hai thiết bị khác nhau về cấu trúc khung và vị trí chân trụ.

Khi kiểm bản vẽ cho ghế Vifa, cần chú ý trụ chính, thanh phụ, các điểm giữ chân và phạm vi hai người có thể ngả thân. Trang sản phẩm mô tả khung chôn cố định vào nền, vì vậy vị trí lắp không chỉ cần vừa thân ghế mà còn phải phù hợp kết cấu dưới nền. Nếu nền có đường điện hoặc đường nước, giải pháp móng cần được khảo sát trước, không tự đặt khoan ở vị trí trụ chỉ vì vừa khoảng cách trên bản vẽ.
Số đo bao ngoài 157 × 124 cm tạo hình chiếu thân khoảng 1,9468 m². Diện tích này lớn hơn thân NT-619 nhưng không nói lên toàn bộ diện tích cần dành cho hai người. Phần đầu và chân vận động, vùng tiếp cận và khoảng cách đến lối đi là những lớp thông tin khác. Trong một dự án có nhiều ghế, nên thống nhất cùng cách đo để tránh mỗi đơn vị báo một hệ tiêu chí.
Nếu dự toán cho trường học, việc mô tả ghế “hai người” cũng cần được kiểm theo thiết kế và nhóm học sinh sử dụng. Không lấy mỗi chiều cao khung để suy ra ghế phù hợp mọi độ tuổi. Trường hợp cần hướng dẫn bài tập, đọc cách sử dụng ghế tập lưng bụng ngoài trời rồi đối chiếu đúng model; bài hướng dẫn chung không thay tài liệu nhà sản xuất.
7. Ghế cong Vifa 731311: cách đọc chiều dài lắp đặt 155,1 cm
Ghế cong Vifa 731311 có kích thước lắp đặt 1551 × 582 × 480 mm, tương ứng dài 155,1 cm, rộng 58,2 cm và cao 48 cm. Giá bán của mẫu này là 6.690.000đ. So với mẫu ghế đơn NT-511, ghế cong Vifa dài hơn 5,1 cm nhưng hẹp hơn 4,8 cm. Đây là so sánh hình chiếu phủ bì, không thể dùng để đánh giá mẫu nào “thoải mái hơn” nếu chưa kiểm đường cong mặt ghế và tư thế ngả người.

Do hình dáng cong, vị trí chịu tải của lưng có thể không trùng với điểm cao nhất của khung. Vì vậy số đo cao 48 cm không có nghĩa mọi vị trí mặt tựa đều cách nền 48 cm. Nếu sân đang thiết kế cao độ lát gạch và hệ thống thoát nước, cần chốt cốt nền hoàn thiện, cách neo chân và điểm thấp nhất của kết cấu trước khi thi công.
Điểm dễ mắc lỗi ở ghế cong là đánh dấu chiều dài 155,1 cm trên nền rồi để hai đầu máy chạm sát vật cản. Khi người sử dụng lên xuống, thân và cánh tay có thể vượt ra ngoài hình chữ nhật phủ bì. Một bản vẽ lắp đặt nên thể hiện thêm hình người sử dụng và vùng không va chạm, chứ không chỉ có một khối chữ nhật cho ghế.
8. Vì sao không tự ghi kích thước Vifa 712312 khi chưa có bản vẽ?
Vifa 712312 là một mẫu máy tập lưng bụng riêng của Thiên Long. Với mẫu này, cần bản vẽ kích thước từ đúng mã trước khi lập móng. Không sao chép 155,1 × 58,2 × 48 cm của ghế cong Vifa 731311 hoặc số đo ghế đôi Vifa khác sang cùng thương hiệu.

Vifa 712312 có thể khác nhóm ghế đơn/đôi về khung và vị trí tập. Một công trình muốn thay thế mẫu cũ bằng mã này phải kiểm điều kiện tải, chân trụ, số vị trí sử dụng và vùng vận động theo tài liệu sản phẩm. Đổi model sau khi xây móng mà không cập nhật bản vẽ là rủi ro thường gặp: khoảng tâm chân trụ, chiều cao và tầm với có thể không tương thích với nền sẵn có.
9. Diện tích đặt ghế và diện tích sử dụng khác nhau ra sao?
Diện tích đặt ghế theo hình chữ nhật bao thân được tính bằng dài × rộng. Với kích thước ghi bằng centimet, đổi sang mét rồi nhân: 150 cm thành 1,50 m và 63 cm thành 0,63 m. Kết quả là phần diện tích hình chiếu bao ngoài nếu coi khung chiếm một khối chữ nhật; bản thân đó không phải một ô sân đã đủ vùng an toàn. Các giá trị dưới đây chỉ phục vụ so sánh hình học trước thiết kế.
| Model | Hình chiếu phủ bì | Diện tích hình chữ nhật bao thân | Không tính trong phép nhân |
|---|---|---|---|
| Ghế đơn NT-511 | 1,500 × 0,630 m | 0,9450 m² | Vùng người tập, lối đi, phần neo |
| Ghế đơn NT-620 | 1,380 × 0,660 m | 0,9108 m² | Vùng người tập, lối đi, phần neo |
| Ghế đôi NT-619 | 1,300 × 1,120 m | 1,4560 m² | Vùng người tập, lối đi, phần neo |
| Ghế đôi Vifa VF-711312-1 | 1,570 × 1,240 m | 1,9468 m² | Vùng người tập, lối đi, phần neo |
| Ghế cong Vifa 731311 | 1,551 × 0,582 m | 0,9027 m² | Vùng người tập, lối đi, phần neo |
Một sân rộng khoảng 20 m² cũng không thể được lập kế hoạch bằng cách lấy 20 chia cho 0,945 m² của NT-511. Còn phải giữ lối tiếp cận, khoảng trống chuyển động và không để khu vực đầu, chân của hai ghế nằm đối diện nhau. Kích thước thiết bị chỉ là dữ liệu đầu vào của bước bố trí máy tập công viên theo diện tích và lối đi, không phải đáp số cuối của bài toán mặt bằng.
Nếu có bản vẽ tổng mặt bằng, nên đặt ký hiệu thể hiện hướng nằm/ngồi, vùng đầu và chân, chỗ quay người, lối bảo trì, vật cản và cốt mặt sân. Trường hợp trên bản vẽ có chữ “diện tích yêu cầu 2 m²” mà không có giải thích thì phải hỏi đó là diện tích thân máy hay diện tích vùng tập, tránh nhận một con số không cùng định nghĩa.
10. Vùng người tập gập thân: đo từ đâu và cần kiểm điều gì?
Với ghế bụng, thân người có thể di chuyển khi ngả lưng và gập người. Ngoài khung ghế, khu vực quanh đầu và tay cần thoáng; ở cuối ghế, phần chân và hướng đứng lên cũng cần chỗ xoay người. Không áp dụng số đo phủ bì làm ranh giới chuyển động. Với ghế đôi, phải xét khả năng hai người ở hai vị trí cùng vận động mà không chạm vào tay, chân hoặc thiết bị liền kề.
Một cách khảo sát thực tế trước khi xây móng là đặt tạm mẫu vị trí bằng vạch phấn trên nền sạch; dùng kích thước bao ngoài thật từ sản phẩm, sau đó quan sát đường đi lại, lối mở cửa và các vật cản. Chưa có ghế để thử thì phải yêu cầu bản vẽ có vùng vận động hoặc hướng dẫn sử dụng của model. Không thay thử nghiệm an toàn bằng một người làm động tác quá sức hoặc đứng lên vật giả kê tự chế.
Nếu ghế dùng cho nhóm người cao tuổi, chiều cao mặt đỡ, khả năng tự ngồi dậy và vị trí tay bám có thể quan trọng hơn vài centimet chênh lệch ở chiều dài khung. Nội dung bài tập thể dục ở công viên cho người cao tuổi hỗ trợ cân nhắc hoạt động nào có thể phù hợp; không có nghĩa mọi mẫu ghế bụng đều thích hợp với mọi người lớn tuổi.
11. Lối đi, cây xanh và mép sân ảnh hưởng chọn ghế thế nào?
Hai ghế giống hệt nhau vẫn có thể mang tới trải nghiệm rất khác khi đặt ở hai vị trí. Một bên sát bồn cây cần chú ý rễ cây nổi, tán cây thấp hoặc hệ thống tưới; bên cạnh đường dạo cần xét người đi bộ, xe đẩy và xe đạp không đi ngang vùng người tập. Khi đặt gần hàng rào, phần đầu ghế không nên hướng ngay vào vật cản khiến người dùng mất khoảng xoay sở.
Với sân lát đá hoặc gạch, cần kiểm khả năng neo theo giải pháp thiết kế; lát đẹp không chứng minh nền dưới đủ để bắt bu lông hoặc chôn trụ. Nếu công trình là sân thượng, chưa được mặc định có thể khoan vào lớp chống thấm. Cần kiểm hồ sơ kết cấu, tải và thoát nước, làm việc với đơn vị phụ trách công trình trước khi xác định vị trí.
Đặt ghế sát thiết bị có trục xoay dễ tạo xung đột không gian. Hai nhóm có quỹ đạo vận động khác nhau, vì vậy không lấy khoảng cách hàng hóa xếp kho làm khoảng cách tập. Để xem sự khác biệt chức năng, phần máy xoay eo và máy tập lưng eo khác nhau giải thích tại sao cần đọc cấu tạo trước khi vẽ khu tập chung.
12. Chân đế, móng chôn và cao độ nền: cần thêm những bản vẽ nào?
Một số ghế công viên dùng khung tự đứng kết hợp phương án cố định được thiết kế; một số loại khác chôn trụ. Mỗi giải pháp đòi hỏi thông tin riêng về bộ chân, vị trí lỗ/điểm chôn, điều kiện đất nền và chiều sâu theo hướng dẫn kỹ thuật. Không tự gán “móng 40 × 40 × 50 cm” cho mọi ghế hoặc sao chép hướng móng của trụ bóng rổ vào thiết bị lưng bụng.
| Hạng mục cần xác nhận | Lý do phải ghi rõ | Ai cung cấp/kiểm tra |
|---|---|---|
| Bản vẽ tổng thể từng model | Xác nhận D × R × C và hướng ghế | Đơn vị cung cấp thiết bị |
| Hình chiếu mặt bằng | Xác định tâm/trụ, lối lên xuống | Đơn vị thiết kế mặt bằng |
| Chi tiết chân trụ/neo | Chọn hình thức chôn, bắt neo hoặc giải pháp khác | Nhà cung cấp và người thiết kế |
| Cốt nền và thoát nước | Tránh nền thấp đọng nước, lún hay cản lối | Đơn vị thi công hiện trường |
| Vùng người sử dụng | Không chồng vùng vận động và lối đi | Đơn vị thiết kế và kiểm định phù hợp |
| Biên bản nghiệm thu | Đối chiếu vị trí, độ vững, tính toàn vẹn | Chủ đầu tư và đơn vị lắp đặt |
Tiêu chuẩn TCVN 13529:2022 về thiết bị luyện tập ngoài trời là tài liệu nên đối chiếu khi thiết kế an toàn cho thiết bị lắp cố định. Việc một thiết bị thuộc nhóm công viên không có nghĩa tự động đã được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn. Chỉ khẳng định model đáp ứng khi có chứng cứ thử nghiệm hoặc hồ sơ đúng sản phẩm.
Khi phải đổi vị trí do phát hiện đường ống ngầm, cần cập nhật bản vẽ mới rồi mới chôn trụ. Dịch thiết bị 20 cm mà không xem lối đi và vùng tập cũng có thể khiến hai thiết bị cắt nhau. Đối với dự án nhiều máy, nên nghiệm thu theo mã từng sản phẩm; không gom tất cả vào một dòng “lắp xong máy thể thao”.
13. Khác biệt giữa ghế bụng và máy lưng eo đôi: đừng lấy nhầm kích thước
Máy lưng eo đôi NT-617 có kích thước 103 × 94 × 135 cm theo trang sản phẩm, nhưng đây không phải kích thước ghế tập lưng bụng. NT-617 có kết cấu và tư thế tập riêng, do đó không thể dùng số đo cao 135 cm hoặc nền 103 × 94 cm để thay cho dữ liệu NT-619 hay Vifa VF-711312-1. Khi đặt đơn hàng theo danh mục lưng eo tổng, phải nhìn tên và ảnh mã sản phẩm trước khi nhận báo giá.

Ngay cả khi cùng phục vụ hoạt động vùng thân, khác biệt thiết kế tác động tới chiều cao, điểm tỳ và vùng phải chừa. Một mẫu máy lưng eo đôi có thể cao gấp đôi ghế cong thấp, nhưng điều này không chứng minh máy cao dùng an toàn hơn hay hiệu quả hơn với mọi đối tượng. Chọn loại thiết bị trước theo bài tập mong muốn, rồi mới dùng kích thước chính xác của loại đó để lên mặt bằng.
Phần máy tập xoay eo có tác dụng gì giúp phân biệt vận động xoay thân và bài trên ghế; tuy nhiên bài này chỉ tập trung kích thước kỹ thuật của ghế. Khi khảo sát, các thông tin về công dụng không thể thay bản vẽ lắp đặt, cũng như bảng giá không thay được thông số móng.
14. Vì sao Vifa 712332 không dùng chung bản vẽ ghế bụng?
Vifa 712332 thuộc nhóm máy tập xoay eo, có ảnh và mã riêng của Thiên Long. Thiết bị này không phải ghế tập lưng bụng nên không đưa vào bảng năm kích thước ghế. Nếu công trình có cả máy xoay và ghế bụng, cần hai loại bản vẽ vùng vận động: một cho tư thế đứng trên cơ cấu xoay, một cho tư thế gập thân hoặc nằm/ngồi trên ghế.

Tham khảo máy tập xoay eo Vifa 712332 khi cần phân biệt hai kiểu máy trong danh mục. Đây là ví dụ cho lý do không được thấy chữ “eo” rồi lấy chiều dài của ghế gập bụng thay cho đường kính hoặc kích thước lắp đặt máy đứng. Trường hợp cần cả hai thiết bị, hãy dành vị trí cho từng khu tập và lối tiếp cận thay vì ghép sát để tiết kiệm diện tích trên giấy.
Nếu công viên gần khu vui chơi trẻ em, vùng vận động của ghế và máy xoay không nên bị dùng chung làm lối qua lại. Người lớn thực hiện động tác có thể không quan sát hết phía sau đầu hoặc chân. Vì thế cần phân biệt luồng người và vùng tập ngay từ bước sơ đồ, trước cả việc quyết định mua thêm thiết bị nào.
15. Bảng giá năm mẫu ghế đã có số đo và hai mẫu so sánh
Giá bán chỉ có ý nghĩa khi gắn với đúng mã, đúng chức năng và cấu tạo. Cùng một nhóm ghế bụng có chênh lệch giữa đơn, đôi và cong, nhưng không nên chỉ chọn giá thấp nếu điểm gác chân, kích thước nền hoặc nhu cầu người sử dụng không phù hợp. Bảng dưới ghi giá từng mẫu ghế đang được Thiên Long niêm yết; không gộp chung mọi hạng mục xây móng vào giá của thân thiết bị.
| Mẫu thiết bị | Giá bán | Điểm cần so trước khi chọn |
|---|---|---|
| Ghế cong Vifa 731311 | 6.690.000đ | Mặt ghế cong; 155,1 × 58,2 × 48 cm |
| Ghế đơn NT-511 | 7.500.000đ | 150 × 63 × 60 cm |
| Ghế đơn NT-620 | 7.550.000đ | 138 × 66 × 60 cm |
| Ghế đôi Vifa VF-711312-1 | 8.800.000đ | 157 × 124 × 66 cm |
| Ghế đôi NT-619 | 11.950.000đ | 130 × 112 × 63 cm |
| Máy lưng bụng Vifa 712312 | Liên hệ báo giá | Cần xác nhận bản vẽ kỹ thuật trước thiết kế |
| Máy xoay eo Vifa 712332 | Liên hệ báo giá | KHÁC NHÓM GHẾ; chỉ để so sánh |
Nếu cần đầu tư nhiều ghế, cách đặt hàng đúng là gửi danh sách mã và số lượng; yêu cầu bảng giá có phần thân máy, vật tư lắp, móng, vận chuyển, thời gian thực hiện và nghiệm thu thể hiện riêng theo điều kiện dự án. Đừng tự tính rằng mỗi mức giá trên đã bao gồm mọi hạng mục tại địa điểm cụ thể. Thiên Long có thể tiếp nhận bản vẽ mặt bằng để tư vấn lựa chọn mã ghế đúng nhu cầu.
Các mẫu ghế thuộc nhóm thiết bị thể thao ngoài trời của Thiên Long, nơi có cả xe đạp, máy đi bộ, ghế và các tổ hợp vận động. Mua cho một sân tập nên bắt đầu bằng những hoạt động người dân thực sự cần, sau đó mới chia khu vực cho ghế bụng, máy toàn thân và dụng cụ khác, thay vì lấp đủ chỗ trống chỉ theo kích thước phủ bì.
16. Cách lập sơ đồ sân với ghế đơn, ghế đôi và ghế cong
Bước đầu, đo chiều dài và chiều rộng hữu dụng của sân sau khi trừ khu vực không được bố trí máy: đường giao thông, bồn cây, cửa thoát hiểm, hố ga, đường điện hoặc vùng bắt buộc để trống. Sau đó chọn model cần sử dụng. Với mỗi model, dùng hình chữ nhật phủ bì ghi số đo thật, xoay hình theo hướng dự kiến người dùng lên và xuống ghế.
Bước tiếp, thêm lớp thể hiện hướng gập thân, không gian hai bên và đoạn đầu/đuôi mà chân có thể vươn tới. Không cần bịa một con số an toàn cố định khi chưa có bản vẽ; yêu cầu đơn vị thiết kế xác minh theo tiêu chuẩn, tài liệu sản phẩm và bối cảnh sân. Nếu hai lớp vùng sử dụng chồng nhau, đổi vị trí hoặc giảm số lượng ghế trước khi ra bản thiết kế thi công.
Cuối cùng, đối chiếu lối đi và bảo trì. Nhân viên vệ sinh cần tiếp cận chân trụ, mối nối mà không phải đi xuyên qua người đang tập; người sử dụng cũng cần ra khỏi thiết bị mà không bước ngay vào vùng tập của máy bên cạnh. Những chi tiết này đặc biệt quan trọng với sân đông người vào buổi sáng và chiều, khi nhiều vị trí được dùng cùng lúc.
| Bước lập mặt bằng | Việc thực hiện | Sai sót cần tránh |
|---|---|---|
| 1. Đo sân | Đo vùng hữu dụng, xác định vật cản và lối đi | Lấy tổng diện tích khu đất làm sân tập |
| 2. Chốt mã ghế | Đối chiếu D × R × C đúng model | Ước lượng từ ảnh hoặc chép số mẫu khác |
| 3. Thể hiện hướng tập | Đánh dấu đầu/chân, lối lên xuống và vùng chuyển động | Đồng nhất vùng tập với hình chữ nhật thân máy |
| 4. Kiểm móng | Đối chiếu bản vẽ neo, nền, cốt và thoát nước | Chôn trụ theo kích thước móng truyền miệng |
| 5. Duyệt bố trí | Kiểm giao cắt vùng tập, lối đi, cây xanh | Để ghế chắn lối tiếp cận khẩn cấp |
| 6. Nghiệm thu | Đo lại vị trí, kiểm tính ổn định và bề mặt | Chỉ đếm số máy đã giao |
Nếu công trình ở TP.HCM, khí hậu nóng và mưa thường xuyên còn đặt ra bài toán thoát nước, vật liệu bề mặt và thời gian người dân sử dụng. Bài công viên có máy tập thể dục ở TP.HCM có thể dùng để hiểu bối cảnh lựa chọn nơi vận động; không thay được khảo sát mặt sân thực tế của công trình.
17. Nghiệm thu ghế tập lưng bụng: kiểm gì trước khi đưa vào sử dụng?
Khi thiết bị đã lắp, cần so lại mã hàng, hướng đặt, kích thước bao ngoài, điều kiện cố định và tình trạng bề mặt. Tay vịn, điểm giữ chân, mặt ghế phải nguyên vẹn, không có cạnh sắc hoặc phần rung lắc. Nếu một mã ghế bị đổi trong quá trình thi công, phải cập nhật hồ sơ nghiệm thu và đối chiếu các khoảng trống một lần nữa, không chỉ kiểm giá trị trên hợp đồng.
Lớp sơn, bu lông và điểm kết nối phải được kiểm theo tài liệu kỹ thuật. Hãy quan sát các vùng nước đọng hoặc nơi người sử dụng phải bước lên bề mặt trơn. Nếu thiết bị chưa ổn định hoặc còn vật liệu thi công nằm quanh ghế, chưa nên mở cho người dân tập. Không dùng số lần gập bụng thử trên thiết bị chưa nghiệm thu để xác nhận chất lượng móng.
Kế hoạch sử dụng cũng phải tính bảo dưỡng định kỳ. Một ghế đã lắp đúng ngày đầu vẫn có thể thay đổi độ vững nếu nền lún, chi tiết lỏng hoặc bề mặt xuống cấp. Cần ghi nhận ai kiểm tra, tần suất phù hợp và quy trình ngừng sử dụng khi phát hiện bất thường; điều này không thể thay bằng lời quảng cáo rằng thiết bị “bền mãi”.
18. Liên hệ Thiên Long khi cần lựa chọn ghế theo kích thước sân
Thể Thao Thiên Long cung cấp các mẫu ghế NT-511, NT-620, NT-619, Vifa VF-711312-1, Vifa 731311 và nhiều thiết bị khác trong nhóm ngoài trời. Để được tư vấn chính xác, nên chuẩn bị bản vẽ sân hoặc số đo tổng thể, loại nền, ảnh công trình, số người sử dụng dự kiến và danh sách model đang quan tâm. Nếu chưa chắc nên lắp ghế đơn hay đôi, hãy nêu rõ cách dùng dự kiến thay vì chỉ gửi kích thước đất.
Thiên Long tiếp nhận yêu cầu tại số 298 Đường Chiến Thắng, Phường Hà Đông, Hà Nội và số 85 Đường Nguyễn Văn Quỳ, Phường Tân Thuận, TP.HCM; hotline/Zalo 0397 558 386. Khi trao đổi, cần thống nhất bản vẽ móng, không gian lên xuống và vị trí thiết bị theo thực trạng công trình. Vận chuyển lắp đặt tại nhà trên toàn quốc.
Đối với khu dân cư, nếu đang cân nhắc phân bổ ngân sách giữa ghế bụng và máy xoay eo, phần mua máy tập xoay eo ngoài trời ở đâu uy tín có thêm tiêu chí lựa chọn đơn vị cung cấp, nhưng phải hỏi rõ model, tính sẵn có và phạm vi lắp. Một phương án tư vấn tốt là ghi rõ loại máy, giá, cách cố định và những giới hạn do mặt bằng chật trước khi đưa ra quyết định.
19. Những sai lầm khi chọn kích thước và cách khắc phục
- Chỉ đọc ba số mà không xem thứ tự: luôn ghi “dài × rộng × cao”, nêu rõ mm hay cm trước khi lập mặt bằng.
- Đánh đồng kích thước máy với vùng sử dụng: thêm lớp chuyển động thân, đầu, tay, chân và lối tiếp cận.
- Sao chép số đo giữa các model: mỗi ghế NT, Vifa có bản vẽ riêng; với Vifa 712312 chưa đủ số đo thì yêu cầu xác nhận.
- Xem ghế bụng và máy xoay eo là một: dùng đúng cấu tạo và hướng tập của từng nhóm, không đặt chung hướng đo.
- Chưa khảo sát nền và đường ống: xác minh điều kiện neo và cao độ trước khi khoan/chôn trụ.
- Không tính người sử dụng cùng lúc: ghế đôi cần khảo sát vùng thao tác của cả hai vị trí.
- Tự gán khoảng cách “chuẩn”: chỉ dùng khoảng an toàn được xác định bởi tiêu chuẩn/hồ sơ của thiết bị và công trình cụ thể.
Nếu đơn vị thiết kế gửi bản vẽ mặt bằng mà thiếu mô tả vùng người dùng vận động, chủ đầu tư nên yêu cầu bổ sung trước khi thi công. Đây là thay đổi nhỏ trên giấy nhưng có thể tránh việc chuyển thiết bị sau khi đã làm móng. Cũng cần để ý hướng nắng và thời điểm người dân sử dụng, nhất là khu sân có ít cây che; bài tập thể dục ngoài trời lúc nào tốt nhất bổ sung góc nhìn về lựa chọn thời gian luyện tập phù hợp.
20. Kết luận
Kích thước ghế tập lưng bụng ngoài trời phải được tra theo đúng model: NT-511 150 × 63 × 60 cm, NT-620 138 × 66 × 60 cm, NT-619 130 × 112 × 63 cm, Vifa VF-711312-1 157 × 124 × 66 cm và ghế cong Vifa 731311 155,1 × 58,2 × 48 cm. Các số này là dữ liệu bao ngoài, chưa phải diện tích an toàn khi tập. Để thi công chính xác, cần kết hợp bản vẽ vùng vận động, lối lên xuống, điều kiện mặt nền và chi tiết chân trụ.
Khi công viên phục vụ nhiều lứa tuổi, kích thước chỉ là một tiêu chí; khả năng lên xuống, tư thế phù hợp và tính an toàn lâu dài cũng quan trọng. Các lợi ích của dụng cụ thể thao ngoài trời có thể có được khi thiết bị được lựa chọn đúng nhu cầu và vận hành đúng cách, không phải cứ nhiều máy hoặc máy lớn là sân tập tốt hơn. Gửi bản vẽ sân cho Thiên Long để chốt đúng mã, đúng vùng sử dụng và phương án lắp trước khi mua.
0397 558 386
Messenger
Chat Zalo
Bản đồ